Trang chủ Hoạt động PBGDPL Nghiên cứu - Trao đổi

SỰ BẤT CẬP TRONG VIỆC THỰC HIỆN THU PHÍ CÔNG CHỨNG VÀ LỆ PHÍ CHỨNG THỰC ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT
(Ngày đăng :02/09/2016 12:00:00 SA)

Hoạt động công chứng, chứng thực là một loại dịch vụ công hiện đang được các tổ chức hành nghề công chứng, UBND xã phường cung ứng đây là hoạt động chứng nhận tính xác thực và tính hợp pháp của các hợp đồng giao dịch, phản ánh mối quan hệ trực tiếp giữa người cung ứng dịch vụ và khách hàng, và là những hoạt động phục vụ trực tiếp nhu cầu, quyền và nghĩa vụ cụ thể của các tổ chức và công dân, và được thu tiền trực tiếp từ khách hàng dưới dạng phí và lệ phí.

Trong quá trình cải cách hành chính theo hướng gần dân hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của công dân đang diễn ra hiện nay, thì việc thực hiện cung ứng dịch vụ công cho người dân được trao cho nhiều chủ thể được thực hiện như lĩnh vực thực hiện công chứng, chứng thực các hợp đồng giao dịch liện quan đến quyền của người sử dụng đất được các văn bản pháp lý ghi nhận như luật đất đai năm 2013 tại Khoản 3 Điều 167 quy định việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực,

Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

Và khi tổ chức và cá nhân yêu cầu các cơ quan thực hiện việc công chứng, chứng thực các hợp đồng giao dịch của người sử dụng đất thì phải nộp một khoản phí và lệ phí nhất định. Nhưng theo quy định của pháp luật hiện nay cung cấp một dịch vụ công là thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng giao dịch liên quan đến quyền của người sử dụng đất như thế chấp, góp vốn, cho thuê, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế thì tổ chức và cá nhân có quyền lựa chọn thực hiện công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc thực hiện chứng thực tại UBND xã phường nơi có đất,và phải nộp một khoản phí và lệ phí nhất định, nhưng lại có sự chênh lệch khác nhau

Ở tổ chức hành nghề công chứng thì người yêu cầu thực hiện công chứng phải nộp phí công chứng theo quy định tại Điều 2 mức thu phí công chứng củaThông tư liên tịch số 08/2012/TTLT - BTC - BTP ngày 19 tháng 01 năm 2012. V/v hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng.và Thông tư liên tịch số 115/2015/TTLT-BTC-BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 19 tháng 01 năm 2012 hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng

Mức thu phí công chứng hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền của người sử dụng đất được xác định theo giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch: Như chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất (tính trên giá trị quyền sử dụng đất); hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất (tính trên tổng giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản gắn liền với đất); Công chứng văn bản thoả thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản (tính trên giá trị di sản); Công chứng hợp đồng thế chấp tài sản, cầm cố tài sản (tính trên giá trị tài sản; trường hợp trong hợp đồng thế chấp tài sản, cầm cố tài sản có ghi giá trị khoản vay thì tính trên giá trị khoản vay);

Còn đối với tổ chức và cá nhân khi lựa chọn chứng thực hợp đồng giao dịch thì phải nộp lệ phí chứng thực theo quy định tại khoản 3 điều 3 Thông tư liên tịch số 158/2015/TTLT - BTC - BTP ngày 12 tháng 10 năm 2015 V/v quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng giao dịch mức thu lệ phí về Chứng thực hợp đồng, giao dịch là 30.000 đồng/hợp đồng, giao dịch.

           Chứng thực việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch 20.000đồng/hợp đồng, giao dịch.

Việc quy định khác nhau mức thu về hợp đồng giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất của tổ chức và cá nhân khi thực hiện công chứng và chứng thực, gây nên sự bất bình đẳng trong quá trình thực hiện cung cấp dịch vụ công cho người dân ở những vấn đề sau:

Thứ nhất: Cùng là một dịch vụ công sản phẩm đầu ra là sự xác nhận tính hợp pháp của các hợp đồng giao dịch, nhưng mức thu phí công chứng và lệ phí chứng thực ở các cơ quan thực hiện lại khác nhau.

Mức thu phí ở tổ chức hành nghề công chứng đối hợp đồng, giao dịch được xác định theo giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch: như hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất (tính trên giá trị quyền sử dụng đất);

Công chứng hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất (tính trên tổng giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản gắn liền với đất); Công chứng văn bản thoả thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản (tính trên giá trị di sản); Công chứng hợp đồng thế chấp tài sản, cầm cố tài sản (tính trên giá trị tài sản; trường hợp trong hợp đồng thế chấp tài sản, cầm cố tài sản có ghi giá trị khoản vay thì tính trên giá trị khoản vay);

Mức thu cao nhất ở tổ chức hành nghề công chứng là 10.000.000 đồng trong khi đó việc nộp lệ phí chứng thực ở UBND xã phường không tính theo giá trị tài sản mà quy định một mức thu chung nhất là 30.000 đồng đối với một hợp đồng giao dịch.

Thứ hai: Chủ thể thực hiện cung cấp dịch vụ công là tổ chức hành nghề công chứng và UBND xã phườn, đối với tổ chức hành nghề công chứng thì Công chứng viên là người trực tiếp thực hiện, còn UBND xã phường thì chủ tịch hoặc phó chủ tịch là người thực hiện, nhưng điều kiện để được thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng giao dịch là khác nhau. Đối với Công chứng viên ký để được thực hiện các hợp đồng giao dịch này phải dáp ứng đầy đủ các điều kiện sau, phải là cử nhân luật, phải có kinh nghiệm công tác trong ngành pháp luận là năm năm, phải chải qua khóa đào tào nghề công chứng 12 tháng và phải tập sự hành nghề công chứng 1 năm tại tổ chức hành nghề công chứng và phải trải qua một kỳ thi sát hạch nghiệp vụ công chứng mới được Bộ trưởng bộ tư pháp bổ nhiệm làm Công chứng viên khi đó mới được thực hiện công chứng các hợp đồng giao dịch. Trong khi đó người thực hiện chứng thực hợp đồng giao dịch ở UBND nhân dân xã phường, chủ tịch, phó chủ tịch nhiều người không có bằng cử nhân luật chỉ có các bằng chuyên môn khác nhưng vẫn  được thực hiện ký chứng thực các hợp đồng giao dịch.

Thứ ba: Chế độ chịu trách nhiệm của người thực hiện công chứng và chứng thực là khác nhau Theo công văn số 4233/BTP - BTTP của Bộ tư pháp ngày 16 tháng 11 năm 2015 V/v hướng dẫn thẩm quyền công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất, nhà ở thì công chứng là việc Công chứng viên chứng nhận tính xác thực và tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch và phải chịu trách nhiệm về nội dung của hợp đồng giao dịch, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình, bồi thường thiệt hại do mình gây ra trong quá trình hành nghề công chứng nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch.

Chứng thực là việc UBND cấp xã chứng thực về thời gian địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch, năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng giao dịch, người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch, nhưng nếu do lỗi của người thực hiện chứng thực mà gây hậu quả cho người yêu cầu chứng thực thì chủ tịch hoặc phó chủ tịch thực hiện chứng thức có phải bồi thường không? hay chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính, hay bị xử kỷ luật theo luận cán bộ công chức.

Như vậy, việc cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay là yếu tố hết sức cần thiết và quan trọng, nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, việc cung ứng dịch vụ công cho tổ chức và cá nhân làm sao thuận lợi nhất cho người dân, khi đến giao dịch có quyền lựa chọn những cơ quan tổ chức gần nhất để thực hiện đối với các hợp đồng giao dịch liên quan đến quyền của người sử dụng đất. Thì tổ chức và cá nhân có quyền lựa chọn công chứng hoặc chứng thực, thuận lợi cho người dân có thể đến nơi nào gần với mình để thực hiện công chứng, chứng thực, nhưng việc cải cách hành chính là nhiều cơ quan cùng tham gia thực hiện cung cấp dịch vụ công cho người dân, nhưng khi đối tượng được hưởng việc cung cấp dịch vụ công phải nộp một khoản phí và lệ phí theo quy định cần phải có sự thống nhất về mức độ thu phí và lệ phí để đảm bảo sự công bằng đối với tổ chức và cá nhân khi yêu cầu thực hiện công chứng hoặc chứng thực các hợp đồng giao dịch. Bởi sự bất cấp trong việc thu phí công chứng và lệ phí chứng thực đối với hợp đồng giao dịch liên quan đến quyền của người sử dụng đất chưa tạo ra sự bình đẳng cần phải có sự thống nhất. Trong điều kiện hiện nay việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính là rất cần thiết đáp ứng thuận lợi nhanh chóng các yêu cầu của người dân. nhiều trường hợp cùng một loại việc, cùng trình tự thủ tục, giá trị pháp lý mà lệ phí chứng thực tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thấp hơn nhiều so với phí công chứng, lệ phí chứng thực hợp đồng giao dịch. Bộ tư pháp mức thu như vậy thấp hơn so với mức thu phí công chứng được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng do đó nếu được lựa chọn người yêu cầu "thích" chứng thực hợp đồng giao dịch hơn là thực hiện công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng bởi lệ phí chứng thực rất ít chỉ 30.000 đồng cho một hợp đồng cho dù giá trị tài sản đó là rất lớn./.

Tin liên quan

Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ(09/05/2018 3:55:52 CH)

Khó khăn, vướng mắc khi thực hiện công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng(03/07/2017 10:26:40 SA)

SỰ BẤT CẬP TRONG VIỆC THỰC HIỆN THU PHÍ CÔNG CHỨNG VÀ LỆ PHÍ CHỨNG THỰC ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT(01/12/2016 4:13:41 CH)

Quyền con người từ góc độ pháp lý(01/12/2016 3:38:28 CH)

Một số vướng mắc, bất cập từ thực tiễn thi hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật xử lý vi phạm hành chính(01/12/2016 3:43:42 CH)

517 Người đang Online

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ TƯ PHÁP TỈNH LAI CHÂU

Địa chỉ: Tầng 3 - Nhà D - Trung tâm hành chính, chính trị tỉnh

Điện thoại: 02133.876.413 - Fax: 02133.876.413

Email: bbt.sotuphap@gmail.com

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Lê Thanh Hải - Giám đốc Sở Tư pháp

Ghi rõ nguồn www.sotp.laichau.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website.