Trang chủ Hoạt động PBGDPL Nghiên cứu - Trao đổi

Khó khăn, vướng mắc khi thực hiện công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng
(Ngày đăng :01/07/2017 12:00:00 SA)


Ảnh minh họa

Qua gần 04 năm thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, công tác xử lý vi phạm hành chính đã có nhiều chuyển biến tích cực, đạt hiệu quả cao, góp phần đắc lực cho việc ổn định tình hình an ninh - chính trị, trật tự - an toàn xã hội, công tác quản lý nhà nước nói chung cũng như trong các lĩnh vực cụ thể của đời sống. 

Bên cạnh những nội dung quy định cụ thể, phù hợp với thực tiễn đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện công tác xử lý vi phạm hành chính một cách chính xác, hiệu quả thì Luật Xử lý vi phạm hành chính và các Nghị định hướng dẫn thi hành vẫn còn một số quy định mà cách hiểu, cách áp dụng chưa được thống nhất. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do quy định của pháp luật không rõ ràng, cụ thể nên đã gây khó khăn cho việc thực hiện. Trong bài viết này, tác giả đưa ra một số khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng được quy định tại Nghị định 121/203/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở và Thông tư số 02/2014/TT-BXD ngày 12/02/2014 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 121/203/NĐ-CP.

- Thứ nhất: Tại Khoản 8 Điều 13 Nghị định 121/2013/NĐ-CP quy định:

Đi với hành vi quy định tại Khoản 3, Khoản 5, Khoản 6 và Khoản 7 Điu này, sau khi có biên bản vi phạm hành chính của người có thẩm quyền mà vẫn tái phạm thì tùy theo mức độ vi phạm, quy mô công trình vi phạm bị xử phạt từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng và bị tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng (nếu có)”.

Và Điều 7 Thông tư số 02/2014/TT-BXD hướng dẫn nội dung này như sau:

 “Sau khi người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Khoản 3, Khoản 5, Khoản 6, Khoản 7 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP mà tổ chức, cá nhân vi phạm vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm thì lập biên bản vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân đó về hành vi quy định tại Khoản 8 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP”.

Nếu hiểu theo quy định này thì sau khi người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính mà tổ chức, cá nhân vi phạm vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm thì lại lập biên bản vi phạm hành chính. Việc quy định như trên của Thông tư số 02/2014/TT-BXD và Nghị định 121/2013/NĐ-CP còn chưa thống nhất với Khoản 3 Điều 6 Nghị định 81/2013/NĐ-CP, vì tại Khoản 3 Điều 6 Nghị định 81/2013/NĐ-CP quy định: “Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị lập biên bản và ra quyết định xử phạt một lần. Trường hợp hành vi vi phạm đã bị lập biên bản nhưng chưa ra quyết định xử phạt mà cá nhân, tổ chức không thực hiện yêu cầu, mệnh lệnh của người có thẩm quyền xử phạt, vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm đó, thì người có thẩm quyền xử phạt phải áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính phù hợp để chấm dứt hành vi vi phạm”.

- Thứ hai: Tại Điều 2 của Thông tư số 02/2014/TT-BXD “Về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc phá dỡ công trình xây dựng, bộ phận công trình xây dựng vi phạm” quy định như sau:

“Việc áp dụng quy định tại Khoản 10 Điều 13của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP theo trình tự như sau:

Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính, người có thẩm quyền quy định tại Điều 59 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP có trách nhiệm lập biên bản như sau: hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện thì lập biên bản theo Mẫu biên bản số 01, hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc thì lập biên bản theo Mẫu biên bản số 02 ban hành kèm theo Thông tư này”.

Mặt khác, trên cơ sở quy định tại Khoản 9, Khoản 10 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP, cũng như hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 8 Thông tư số 02/2014/TT-BXD thấy rằng nếu người có thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm hành chính mà hành vi này đã kết thúc, công trình xây dựng đã được hoàn thành, đưa vào sử dụng thì lập biên bản theo Mẫu biên bản số 02 của Thông tư số 02/2014/TT-BXD, còn hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện thì sẽ lập theo Mẫu biên bản số 01 của Thông tư số 02/2014/TT-BXD. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các biểu mẫu này cho thấy:

- Đối với Biểu mẫu số 01 “Biên bản vi phạm hành chính và yêu cầu ngừng thi công xây dựng công trình vi phạm”.

Trong nội dung của Biên bản có quy định: yêu cầu cá nhân/tổ chức vi phạm phải tự phá dỡ công trình xây dựng, bộ phận công trình vi phạm.

Tuy nhiên, tại tiêu đề của Điều 2 Thông tư số 02/2014/TT-BXD đã xác định việc buộc phá dỡ công trình xây dựng, bộ phận công trình xây dựng vi phạm là “biện pháp khắc phục hậu quả”. Mặt khác, Điểm b Khoản 1 Điều 28 Luật XLVPHC cũng quy định “Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép” là một trong các biện pháp khắc phục hậu quả.

Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Luật XLVPHC thì:

 “Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”.

 Bên cạnh đó, Khoản 2 Điều 28 của Luật XLVPHC cũng quy định:

Nguyên tắc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả:

Đối với mỗi vi phạm hành chính, ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều này;

Biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng độc lập trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật này”.

Từ quy định tại Khoản 2 Điều 2 và Khoản 2 Điều 28 của Luật XLVPHC cho thấy biện pháp khắc phục hậu quả phải do người có thẩm quyền xử phạt áp dụng và phải được quy định trong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (trừ trường hợp được áp dụng độc lập theo quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật XLVPHC). Như vậy, việc Thông tư  số 02/2014/TT-BXD quy định người lập biên bản có quyền yêu cầu cá nhân/tổ chức vi phạm phải tự phá dỡ công trình xây dựng, bộ phận công trình vi phạm là chưa phù hợp với quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.

- Tương tự đối với Biểu mẫu số 02 “Biên bản vi phạm hành chính và yêu cầu tự phá dỡ công trình xây dựng, bộ phận công trình xây dựng vi phạm”. Biên bản này áp dụng trong trường hợp người có thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm hành chính mà hành vi này đã kết thúc, công trình xây dựng đã được hoàn thành, đưa vào sử dụng. Trong nội dung Biên bản cũng yêu cầu tổ chức hoặc cá nhân vi phạm phải tự phá dỡ công trình xây dựng, bộ phận công trình vi phạm là chưa phù hợp với quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.

Từ những bất cập, vướng mắc nêu trên nên thời gian qua việc xử lý vi phạm hành chính trên thực tế còn gặp lúng túng, dẫn đến việc áp dụng pháp luật còn tùy tiện, chưa thống nhất và khó khăn cho cả công tác quản lý nhà nước nhất là trong việc kiểm tra, thanh tra, theo dõi và hướng dẫn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Do đó, các cơ quan có thẩm quyền cần sớm sửa đổi, bổ sung những tồn tại, bất cập nêu trên.

Tin liên quan

Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ(09/05/2018 3:55:52 CH)

Khó khăn, vướng mắc khi thực hiện công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng(03/07/2017 10:26:40 SA)

SỰ BẤT CẬP TRONG VIỆC THỰC HIỆN THU PHÍ CÔNG CHỨNG VÀ LỆ PHÍ CHỨNG THỰC ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT(01/12/2016 4:13:41 CH)

Quyền con người từ góc độ pháp lý(01/12/2016 3:38:28 CH)

Một số vướng mắc, bất cập từ thực tiễn thi hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật xử lý vi phạm hành chính(01/12/2016 3:43:42 CH)

Tin mới nhất

Công bố Người phát ngôn của Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu(20/08/2026 6:35:45 CH)

THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ 6 MỎ KHOÁNG SẢN (20/08/2026 11:06:13 SA)

Tổ chức Chương trình đi bộ "cùng Việt Nam tiến bước" năm 2026(19/08/2026 4:57:42 CH)

Thông báo công khai việc đấu giá tài sản “Đấu giá lần thứ năm, theo thủ tục rút gọn”(20/08/2026 2:56:51 CH)

Lai Châu triển khai chính sách thu hút, đãi ngộ, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực giai đoạn 2026 - 2030(17/08/2026 9:26:11 CH)

Lịch tiếp công dân tháng 8 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản

Lịch tiếp công dân định kỳ tháng 8 của Giám đốc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước

Lịch tiếp công dân thường xuyên tháng 8 của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước

Lịch tiếp công dân định kỳ tháng 8 của Giám đốc Sở Tư pháp

Lịch tiếp công dân thường xuyên tháng 8 của Sở Tư pháp

Quyết định số 56/2026/QĐ-UBND ngày 06/7/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu Ban hành Quy định về tiêu chí thiết kế mẫu, thiết kế điển hình hoặc áp dụng thiết kế sẵn có; danh mục loại dự án và tổng mức tối đa của một dự án thuộc danh mục loại dự án đặc thù thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy

Lịch tiếp công dân định kỳ tháng 7 của Giám đốc Sở

Lịch tiếp công dân thường xuyên tháng 7 của Sở Tư pháp

Lịch tiếp công dân thường xuyên tháng 7 của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước

Quyế định 44/2026/QĐ-UBND ngày 20/6/2026 Quy định trình tự, thủ tục hành chính về đất đai trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Kế hoạch Tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Dân số Thế giới năm 2026

Nghị Quyết về Quy định một số nội dung và mức chi quản lý, thực hiện chương trình và nhiệm vụ, hỗ trợ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có sử dụng ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý của tỉnh Lai Châu

Nghị quyết Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng các khoản phí, lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh Lai Châu

Nghị quyết Quy định nội dung, mức chi và các điều kiện bảo đảm hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp tỉnh Lai Châu

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ TƯ PHÁP TỈNH LAI CHÂU
Địa chỉ: Tầng 3 - Nhà E - Trung tâm hành chính, chính trị tỉnh
Điện thoại: 02133.798.666 - Fax: 02133.798.666
Email: bbt.sotuphap@gmail.com
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Trần Quốc Khanh - Giám đốc Sở Tư pháp
Ghi rõ nguồn www.sotp.laichau.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website.
Đăng nhập
Chung nhan Tin Nhiem Mang
top
down