Trang chủ Tin tức - Sự kiện Hoạt động của Sở

Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021
(Ngày đăng :12/04/2016 12:00:00 SA)


Để tạo điều kiện cho cử tri tìm hiểu và thực hiện tốt quyền bầu cử của mình nhằm lựa chọn được những đại diện xứng cho Nhân dân, Ban Biên tập Trang Thông tin điện tử Sở Tư pháp xin giới thiệu một số vấn đề cử tri cần quan tâm khi thực hiện quyền bầu cử của mình:

Nguyên tắc bầu cử: Kế thừa những quy định của Luật bầu cử ĐBQH năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật năm 2001 và Luật năm 2010, Luật bầu cử đại biểu HĐND năm 2003 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật năm 2010 (gọi là Luật cũ), Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015 (Luật năm 2015) quy định việc bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Tuổi bầu cử và tuổi ứng cử: Tiếp thu tinh thần của Hiến pháp 2013, Luật năm 2015 quy định tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào QH, HĐND các cấp theo quy định. Tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dân được tính từ ngày, tháng, năm sinh ghi trong Giấy khai sinh đến ngày bầu cử ĐBQH khóa XIV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 đã được ấn định (ngày 22/5/2016). Trường hợp không có Giấy khai sinh thì căn cứ vào Sổ hộ khẩu hoặc Giấy chứng minh nhân dân để tính tuổi thực hiện quyền bầu cử, ứng cử. Mỗi tuổi tròn được tính từ ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm trước đến ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm sau. Trường hợp không xác định được ngày sinh thì lấy ngày 01 của tháng sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử. Trường hợp không xác định được ngày và tháng sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.

Như vậy, đối với cuộc bầu cử ĐBQH khóa XIV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 đã được ấn định ngày 22/5/2016, mọi công dân Việt Nam có ngày sinh từ ngày 22/5/1998 trở về trước đều có quyền bầu cử, công dân có ngày sinh từ ngày 22/5/1995 về trước đều có quyền ứng cử, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Tiêu chuẩn người ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND: Tiêu chuẩn đại biểu có thay đổi căn bản là không quy định cụ thể tiêu chuẩn trong Luật mà dẫn chiếu đến Luật tổ chức QH và Luật tổ chức chính quyền địa phương. Theo đó: Điều 22 Luật tổ chức QH và Điều 7 Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định, ĐBQH và ĐB HĐND có những tiêu chuẩn sau: Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ ĐBQH, ĐB HĐND. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm. Có điều kiện tham gia các hoạt động của QH, HĐND.

Trên cơ sở các quy định này, các cơ quan, tổ chức, đơn vị được quyền giới thiệu người ra ứng cử cần đề cao trách nhiệm, giới thiệu những ứng cử viên tiêu biểu, có độ tuổi thích hợp, có đủ tài, đủ đức để cử tri có điều kiện lựa chọn người thực sự xứng đáng làm đại biểu cho mình để nâng cao hơn nữa năng lực, trình độ của đại biểu.

Danh sách cử tri: Lập danh sách cử tri là hoạt động quan trọng của mỗi cuộc bầu cử để xác định đối tượng tham gia bầu cử, có ý nghĩa xác nhận về mặt pháp lý quyền bầu cử của công dân. Điểm khác biệt của Luật năm 2015 so với Luật cũ là bổ sung thêm đối tượng cử tri là người đang bị tạm giam, những người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc sẽ được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu ĐBQH và ĐB HĐND cấp tỉnh, nơi người đó đang bị tạm giam, đang được giáo dục, cai nghiện bắt buộc.(Khoản 5, Điều 29). Như vậy, theo luật này, chỉ những người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang phải chấp hành hình phạt tù và người mất năng lực hành vi dân sự thì mới không được ghi tên vào danh sách cử tri.

Cử tri là người tạm trú và có thời gian đăng ký tạm trú tại địa phương chưa đủ 12 tháng, cử tri là quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu ĐBQH, đại biểu HĐND cấp tỉnh, cấp huyện ở nơi tạm trú hoặc đóng quân. Công dân Việt Nam ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, thì đến UBND cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận thẻ cử tri bầu ĐBQH và ĐB HĐND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký thường trú) hoặc bầu ĐBQH và ĐB HĐND cấp tỉnh, cấp huyện (nếu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú).

Như vậy, trừ những trường hợp kể trên, tất cả các cử tri có tên trong danh sách cử tri đều được tham gia bỏ phiếu bầu ĐBQH và ĐB HĐND ở cả cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Từ khi niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bầu cử, nếu cử tri nào vì đi nơi khác, không thể tham gia bỏ phiếu ở nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì có quyền xin giấy chứng nhận của UBND cấp xã nơi mình, đã có tên trong danh sách cử tri để được bổ sung tên vào danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu bầu ĐBQH và ĐB HĐND cấp tỉnh ở nơi mình có thể tham gia bỏ phiếu. Khi cấp giấy chứng nhận, UBND cấp xã phải ghi ngay vào danh sách cử tri tại khu vực bỏ phiếu thuộc địa phương mình bên cạnh tên cử tri cụm từ “Bỏ phiếu ở nơi khác”.

Khiếu nại về danh sách cử tri: Khi kiểm tra danh sách cử tri, nếu phát hiện có sai sót thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày niêm yết, công dân có quyền khiếu nại với cơ quan lập danh, sách cử tri. Cơ quan lập danh sách cử tri phải ghi vào sổ những khiếu nại đó. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, cơ quan lập danh sách cử tri phải giải quyết và thông báo cho người khiếu nại biết kết quả giải quyết. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý về kết quả giải quyết khiếu nại hoặc hết thời hạn giải quyết mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Luật tố tụng hành chính 2010. Thời hiệu khởi kiện: Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày (Điều 104 Luật tố tụng hành chính 2010).

Tuyên truyền, vận động bầu cử: Vận động bầu cử là hoạt động vô cùng quan trọng trong các cuộc bầu cử, có nhiều ảnh hưởng mang tính chất quyết định đối với kết quả bầu cử. Vận động bầu cử là diễn đàn chính trị, tạo điều kiện cho người ứng cử ĐBQH và ĐB HĐND gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri để báo cáo với cử tri dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm ĐBQH và ĐB HĐND. So với các Luật cũ, Luật bầu cử ĐBQH và ĐB HĐND năm 2015 có những điểm mới như: Luật bổ sung nguyên tắc người ứng cử ĐBQH và ứng cử ĐB HĐND ở đơn vị bầu cử nào thực hiện quyền vận động bầu cử ở đơn vị bầu cử đó (Điều 63). Luật quy định rõ thời gian tiến hành vận động bầu cử được bắt đầu từ ngày công bố danh sách chính thức những người ứng cử và kết thúc trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ (Điều 64). Về hình thức vận động bầu cử:  Luật quy định cụ thể 2 hình thức là vận động bầu cử thông qua Hội nghị cử tri do MTTQVN tổ chức và vận động bầu cử thông qua phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 66, 67 của Luật. Luật năm 2015 còn quy định về những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử gồm: Lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử. Lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình. Sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri.

Nguyên tắc bỏ phiếu: Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu ĐBQH và bỏ một phiếu bầu ĐB HĐND tương ứng với mỗi cấp HĐND. Cử tri phải tự mình, đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trường hợp cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.

Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử. Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử. Nếu viết hỏng, cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác. Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri.

Thời gian bỏ phiếu: Theo quy định của Luật cũ, việc bỏ phiếu bắt đầu từ 7 giờ sáng đến 7giờ tối. Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu sớm hơn nhưngkhông được trước 5 giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá 10 giờ đêm.Theo Luật năm 2015 này, việc bỏ phiếu cũng được quy định về thời gian tương tự nhưngTổ bầu cử có thể quyết định kết thúc muộn hơn nhưng không được quá 9 giờ tối cùng ngày.

Phiếu bầu cử: Kích thước và nội dung của phiếu bầu được thực hiện theo các mẫu quy định tại Nghị quyết số 41/NQ-HĐBCQG ngày 29/01/2016 của Hội đồng Bầu cử Quốc gia, màu phiếu được quy định tại văn bản số 937/UBND-NC ngày 11/3/2016 của UBND tỉnh. Theo đó, màu phiếu bầu cử ĐBQH là màu hồng, phiếu bầu cử đại biểu HĐND tỉnh là màu vàng, phiếu bầu cử đại biểu HĐND cấp huyện là màu xanh và phiếu bầu cử đại biểu HĐND cấp xã là màu trắng.      

Việc kiểm phiếuLuật năm 2015 quy định việc kiểm phiếu phải được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi cuộc bỏ phiếu kết thúc. Trước khi mở hòm phiếu, Tổ bầu cử phải thống kê, lập biên bản, niêm phong số phiếu bầu không sử dụng đến và phải mời hai cử tri không phải là người ứng cử chứng kiến việc kiểm phiếu. Người ứng cử, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử hoặc người được ủy nhiệm có quyền chứng kiến việc kiểm phiếu và khiếu nại về việc kiểm phiếu. Các phóng viên báo chí được chứng kiến việc kiểm phiếu.

Công bố kết quả bầu cử: Hội đồng bầu cử quốc gia căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử ĐBQH chậm nhất là 20 ngày sau ngày bầu cử. Ủy ban bầu cử căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu HĐND ở cấp mình chậm nhất là 10 ngày sau ngày bầu cử.

Khiếu nại về kết quả bầu cử ĐBQH, đại biểu HĐND phải được gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia (đối với ĐBQH), Ủy ban bầu cử (đối với đại biểu HĐND) chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày công bố kết quả bầu cử. Hội đồng bầu cử quốc gia có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử ĐBQH trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Ủy banbầu cử có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu HĐND trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử là quyết định cuối cùng.

Xử lý vi phạm pháp luật về bầu cử: Điều 95 Luật năm 2015 quy định rõ người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử của công dân; vi phạm các quy định về vận động bầu cử; người có trách nhiệm trong công tác bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về bầu cử thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự./.

Tin liên quan

Họp giao ban công tác chuyên môn tháng 05/2026(06/05/2026 8:54:56 SA)

ĐẨY MẠNH TUYÊN TRUYỀN HƯỞNG ỨNG NGÀY SÁNG TẠO VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO THẾ GIỚI 21/4/2026(19/04/2026 5:04:43 CH)

Buổi làm việc Giám đốc Sở Tư pháp với phòng Hành chính và Phổ biến pháp luật(13/04/2026 4:04:48 CH)

Hội nghị công bố quyết định của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh về công tác cán bộ(03/04/2026 3:42:01 CH)

Sở Tư pháp tổ chức Hội nghị quán triệt, tuyên truyền, triển khai một số văn bản của cấp trên và của Đảnh uỷ Sở.(03/04/2026 4:23:10 CH)

Tin mới nhất

Một số quy định mới về tố cáo(22/05/2026 3:53:27 CH)

Quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tư pháp(22/05/2026 2:46:40 CH)

Thông báo về việc tiếp tục bán hồ sơ mời tham gia đấu giá quyền sử dụng đất xã Tân Uyên(22/05/2026 11:38:40 SA)

Danh mục văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành năm 2026(21/05/2026 4:34:51 CH)

Triển khai Danh mục văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành năm 2026(21/05/2026 4:30:31 CH)

Quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tư pháp

Nghị định số 113/2024/NĐ-CP ngày 12/9/2024 của Chính phủ về Quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã

Luật Hợp tác xã số 17/2023/QH15

Nghị định số 124/NQ-CP ngày 08/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế khu vực biên giới đất liền

Quyết định số 840/QĐ-TTg ngày 13/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến 2045

Công văn số 431/TTg-KGVX ngày 22/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục chăm lo tốt đời sống người có công nhân dịp kỷ niệm 51 năm, ngày Giải phóng miền năm thống nhất đất nước

Kế hoạch Triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Lịch tiếp công dân thường xuyên tháng 5 năm 2026 của Sở Tư pháp

Lịch tiếp công dân tháng 5 năm 2026 của Giám đốc Sở Tư pháp

Quyết định quy hoạch chung xã Hua Bum, Nậm Hàng

Triển khai thực hiện Quy hoạch tỉnh Lai Châu điều chỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Thông báo công khai việc Đấu giá tài sản

Kế hoạch số 2831/KH-UBND ngày 16/4/2026 về Triển khai, thực hiện Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/02/2026 của Chính phủ và Chương trình hành động số 19-CTr/TU ngày 03/4/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam

Kế hoạch triển khai "Tháng hành động vì an toàn thực phẩm" năm 2026

Lịch tiếp công dân tháng 4 năm 2026 của Giám đốcTrung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ TƯ PHÁP TỈNH LAI CHÂU
Địa chỉ: Tầng 3 - Nhà E - Trung tâm hành chính, chính trị tỉnh
Điện thoại: 02133.798.666 - Fax: 02133.798.666
Email: bbt.sotuphap@gmail.com
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Trần Quốc Khanh - Giám đốc Sở Tư pháp
Ghi rõ nguồn www.sotp.laichau.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website.
Đăng nhập
Chung nhan Tin Nhiem Mang
top
down